Monday, 15 October 2018

Võ gậy tại Đại hội Thể thao Đông Nam Á 2005 – Wikipedia tiếng Việt


GilasArnis.gif

Bộ môn võ gậy, quốc võ của Philippines, lần thứ hai được đưa vào chương trình thi đấu tại một kỳ Đại hội thể thao Đông Nam Á SEA Games 2005 trong hai ngày mùng 3 và mùng 4 tháng 12, 2005. Lần đầu tiên khi Đại hội được tổ chức tại Manila, Philippines năm 1991. Môn thi đấu này là sự tranh chấp giữa hai đoàn Philippines và Việt Nam. Ngoài ra, võ gậy cũng giúp Đông Timor giành được 3 tấm huy chương đầu tiên tại một kỳ SEA Games.


Biểu diễn cá nhân nam[sửa | sửa mã nguồn]


Biểu diễn cá nhân nữ[sửa | sửa mã nguồn]


Biểu diễn đồng đội nam[sửa | sửa mã nguồn]


  • Vàng: Philippines Peter Kelvin Celis, Glenn Llamador, Nathan Ben Dom (Philippines)

  • Bạc: Việt Nam Nguyễn Thanh Tùng, Trần Thanh Tùng, Trần Đức Nghĩa (Việt Nam)

  • Đồng: Campuchia Phann Piseth, Lay Rayon, Yeuth Meth (Campuchia)

Biểu diễn đồng đội nữ[sửa | sửa mã nguồn]


  • Vàng: Philippines Rochelle Quirol, Catherine Ballenas, Aireen Parong (Philippines)

  • Bạc: Việt Nam Nguyễn Thị Hà, Nguyễn Thị Loan, Vũ Thị Thảo (Việt Nam)

Đối kháng cá nhân nam[sửa | sửa mã nguồn]


Đối kháng cá nhân nữ[sửa | sửa mã nguồn]


Đá – Wikipedia tiếng Việt




Bài này nói về đá như là một tập hợp tự nhiên của các khoáng vật, các nghĩa khác xem Đá (định hướng).

Đá là tổ hợp có quy luật của các loại khoáng vật, có thể là một thể địa chất có lịch sử hình thành riêng biệt. Cách phân loại tổng quát nhất dựa trên nguồn gốc thành tạo gồm đá macma, đá trầm tích và đá biến chất. Đôi khi thiên thạch được xem là một nhóm đá riêng có nguồn gốc từ vũ trụ.

Với thời gian đời người đá không có sự biến đổi nhưng chúng có thể bị biến đổi bởi các quá trình địa chất diễn ra trong thời gian rất dài. Chu trình thạch học mô tả các giai đoạn mà các loại đá được hình thành và biến chuyển từ dạng này sang dạng khác. Đá mácma hình thành khi dung nham đông nguội trên bề mặt hoặc kết tinh ở dưới sâu. Các đá trầm tích được hình thành từ quá trình lắng đọng vật liệu, rồi nén ép thành đá. Trong khi đá biến chất có thể hình thành từ các loại đá mácma, đá trầm tích hay các loại đá biến chất có trước dưới tác động của nhiệt độ và áp suất.

Đá là một loại vật liệu gắn liền với lịch sử phát triển của loài người.[1] Từ thời đại đồ đá con người đã biết dùng đá để làm vũ khí tự vệ, săn bắn, công cụ sản xuất. Đặc biệt, đá được dùng trong xây dựng những công trình mà ngày nay chúng trở nên nổi tiếng như Kim tự tháp, Angkor Wat, thành Babylon, El-Djem, Colisée, Bourgogne, Épidayre.



Chu trình thạch học hay còn gọi là vòng tuần hoàn của đá nằm ở lớp thạch quyển thuộc vỏ Trái Đất. Cũng giống như nước hay nhiều loại hợp chất khác, chúng biến đổi tuần tự theo một chu trình xác định và quay vòng một cách có hệ thống tạo nên vòng tuần hoàn khép kín.

Các đá mácma được kết tinh bên dưới lớp vỏ từ mácma nóng hoặc được đưa lên trên mặt để hình thành đá núi lửa. Các quá trình bóc mòn, phong hóa diễn ra trên bề mặt làm đá vỡ ra được mang đi nơi khác lắng đọng lại ở những môi trường có năng lượng thấp như hồ, biển, vv... Sau khi lắng đọng thường do áp lực của chính bản thân vật liệu làm các vật liệu trầm tích bị cố kết để hình thành nên đá trầm tích. Một khi các đá trầm tích hoặc mác ma chịu tác động của môi trường có nhiệt độ hoặc áp suất cao hoặc cả hai yếu tố trên làm cho chúng bị biến đổi về cả thành phần và cấu trúc để tạo ra các đá biến chất. Cả ba loại đá này đều có thể bị hút chìm vào bên trong manti ở các đới hút chìm và tan chảy thành mácma lỏng, và cứ thế quá trình tiếp tục tuần hoàn.[2][3]

Các đá cũng như thế, chúng cũng biến đổi tuần tự theo những chu trình xác định dưới những điều kiện tác động về hóa lý khác nhau từ môi trường như bị phong hóa, lắng đọng, nóng chảy, kết tinh, đông kết..vv. Ta có thể khởi đầu vòng tuần hoàn từ vật liệu magma có trong lòng đất.

(1) Magma → Đá magma phun trào → Trầm tích → Đá trầm tích → Đá biến chất → magma

(2) Magma → Đá magma xâm nhập → Trầm tích → Đá trầm tích → Đá biến chất → magma

Đây có thể coi là hai vòng tuần hoàn lớn vì ngoài ra còn có các vòng tuần hoàn nhỏ hơn cũng xuất phát từ vật liệu ban đầu là magma. Nhưng những vòng tuần hoàn nhỏ này có đường đi ngắn hơn, bỏ qua một số đá nào đó.

(3) Đá magma → Đá magma phun trào → Đá biến chất → magma

(4) Đá magma → Đá magma xâm nhập → Đá biến chất → magma

(5) Đá biến chất (có thể xuất phát từ thiên thạch)→ Trầm tích → Đá trầm tích → Đá biến chất → magma

(6) Đá trầm tích (có thể xuất phát từ thiên thạch)→ Trầm tích → Đá trầm tích → Đá biến chất → magma


Đá mácma được hình thành từ kết quả nguội lạnh, đông cứng của dung dịch silicat nóng chảy (dung dịch macma) và được chia (theo nguồn gốc thành tạo) làm hai loại macma chính: macma xâm nhập và macma phun trào. Macma này có thể có nguồn gốc từ manti của Trái Đất hoặc từ các loại đá đã tồn tại trước đó bị nóng chảy do các thay đổi nhiệt độ áp suất cực cao. Khoảng 64,7% thể trích vỏ Trái Đất được cấu tạo bởi các đá mácma, trong đó, 66% là basalt và gabro, 16% là granit, và 17% granodiorit và diorit. Chỉ có 0,6% là syenit và 0,3% peridotit và dunit. Vỏ đại dương là 99% basalt, một loại đá có thành phần mafic. Granit và các đá tương tự cấu tạo nên phần lớn vỏ lục địa.[4] Trên 700 loại đá mácma đã được miêu tả lại, phần lớn trong chúng được tạo ra gần bề mặt lớp vỏ Trái Đất. Các loại đá mácma chiếm khoảng 95% toàn bộ phần phía trên của lớp vỏ Trái Đất, nhưng chúng phân bố phổ biến hơn ở bên dưới lớp đá trầm tích và đá biến chất tương đối mỏng nhưng phân bố rộng.


Thành phần hóa học & khoáng vật[sửa | sửa mã nguồn]


Chuỗi phản ứng Bowen: không liên tục (trái); liên tục (phải)

Người ta dựa vào thần phần hóa học của đá mácma, đặc biệt là silic điôxít (SiO2) để phân ra thành các đá bazo, trung tính và axit. Ngoài ra, việc phân loại theo thành phần hóa có thể gồm siêu mafic, mafic (tương đương với bazo) hay đá sẫm màu, trung tính và felsic (tương đương với axit) hay đá sáng màu. Xu hướng ngày nay người ta dùng cách gọi mafic, felsic để tránh nhầm lẫn với tính chất axit, bazo trong hóa học. Thuật ngữ felsic được hình thành khi ghép các từ fel của fenspat (tiếng Anh là Felspar) và si của silic. Từ mafic cũng hình thành theo cách tương tự: ma của magiê và f của ferrum (chỉ sắt) trong tiếng Latinh. Các đá felsic là các đá sáng màu do chứa nhiều natri và kali hơn so với các đá mafic. Các đá felsic có nhiệt độ nóng chảy thấp hơn nhưng bền hơn trong điều kiện phong hóa so với đá mafic.[5]

Chuỗi phản ứng Bowen miên tả quá trình mácma nguội lạnh và trình tự kết tinh các khoáng vật để hình thành các loại đá. Chuỗi phản ứng của Boween gồm hai nhánh, nhánh bên phải được gọi là chuỗi phản ứng không liên tục, còn nhánh bên trái được gọi là chuỗi phản ứng liên tục. Nhánh không liên tục bắt đầu kết tinh ở 1200 độ C đứng đầu là olivin - một khoáng vật rất giàu sắt và magie, tiếp theo là pyroxen, amphibol, và biotit. Quá trình kết tinh này làm hàm lượng SiO2 trong phần còn lại của mácma tăng cao. Trong khi đó, nhánh liên tục bên phải bắt đầu là plagioclase giàu canxi có tên gọi là anorthit, từ đây, thành phần canxi của khoáng vật này bị thay thế liên tục bằng natri để tạo ra plagioclase giàu natri-anbit. Tiếp theo muscovit và fenspat giàu SiO2 được kết tinh ở nhiệt độ thấp hơn. Thạch anh là sản phẩm kết tinh cuối cùng trong chuỗi phản ứng trên ở nhiệt độ 750 độ C.


Kiến trúc[sửa | sửa mã nguồn]


Đá mácma có các kiến trúc khác nhau tùy theo môi trường mà chúng thành tạo. Các đá có hạt thô đồng đều là do quá trình nguội lạnh từ từ khi đó các khoáng vật có thời gian để hình thành những tinh thể, loại kiến trúc này được gọi là hiển tinh. Các đá có kiến trúc hiển tinh thường đặc trưng cho môi trường thành tạo dưới mặt đất, như granit, diorit hoặc gabro. Còn các đá nguội lạnh nhanh, các khoáng vật không có thời gian kết tinh như đá núi lửa thường có các kiến trúc ban tinh, vi tinh, ẩn tinh hoặc thủy tinh như ryolit, andesit hay bazan. Đối với các đá có kiến trúc ban tinh, sự xuất hiện các hạt tinh thể to là do chúng được hình thành từ trước dưới sâu và được mang lên trên bề mặt qua quá trình phun trào. Một số loại đá phun trào hình thành nên cấu trúc lỗ hổng hoặc cấu trúc bọt, các cấu trúc này đặc trưng cho các dung nham có chứa nhiều chất bốc (hơi nước, CO2) ở áp suất cao, khi lên đến bề mặt áp suất bị giảm nên pha khí tách ra khỏi pha lỏng, và kết quả là để lại những lỗ rỗng trong khối đá.


Các loại đá mácma[sửa | sửa mã nguồn]


Thành phần khoáng vật học của đá mác ma theo hàm lượng silica (SiO2) giảm dần. Tên đá chú thích kèm theo.[6]

Đá mácma chia theo thành phần SiO2 và theo môi trường thành tạo được miêu tả trong bảng bên dưới.


Đá mácma xâm nhập[sửa | sửa mã nguồn]


Đá mácma xâm nhập được thành tạo khi dung dịch macma nguội đi và các tinh thể khoáng vật kết tinh chậm bên trong vỏ Trái Đất. Các tinh thể kết tinh rõ ràng, các đá loại này thường có cấu tạo đặc sít. Sự kết tinh của dung dịch mácma trong giai đoạn sau có môi trường thuận lợi để hình thành loại đá có kích thước hạt rất to như pegmatit. Các đá xâm nhập có mặt trong các dãy núi cổ và hiện đại, tuy nhiên chúng chỉ có trên các lục địa.


Đá mácma phun trào[sửa | sửa mã nguồn]


Đá mácma phun trào được thành tạo khi dung dịch mácma phun trào lên trên bề mặt đất; có sự giải phóng các chất khí có trong dung dịch macma một cách mãnh liệt, các đá macma phún xuất thường có cấu tạo rỗng xốp.

Trên mặt đất, do nguội lạnh nhanh, macma không kịp kết tinh, hoặc chỉ kết tinh được một bộ phận với kích thước tinh thể rất nhỏ, chưa hoàn chỉnh, còn đại bộ phận tồn tại ở dạng vô đình hình, trong đá có lẫn nhiều bọt khí (do đang sôi và bị nguội lạnh nhanh): đó là dạng macma phún xuất chặt chẽ. Ví dụ Đá diabazơ, bazan, andezit. Có tính chất rỗng nhẹ, cứng và rất giòn. Sử dụng làm cốt liệu cho bê tông nhẹ, dụng làm phụ gia hoạt tính cho bê tông và xi măng…


Mạch diabase (màu đen) cắt qua đá vôi ở Arizona

Khi macma đang sủi bọt, gặp lạnh đông lại nên rất xốp và nhẹ, hoặc phần macma bị phun lên cao, bay xa, nguội nhanh, hơi nước, khí thoát ra nhiều nên có kết cấu rỗng vụn, lỗ nhỏ: đó là dạng macma phún xuất rời rạc. Ví dụ Tro, túp núi lửa, túp dung nham. Tính chất nhẹ. Dùng làm phụ gia trơ cho bê tông và xi măng. Ngoài các núi lửa trên đất liền, một lượng lớn đá này hình thành một cách liên tục ở các sống núi giữa đại dương.


Đá mạch[sửa | sửa mã nguồn]


Đá mạch là các loại đá xâm nhập khi mácma đi lên theo các khe nứt kiến tạo, đứt gãy hoặc các đá có trước bị yếu đi do các yếu tố kiến tạo. Các quá trình hình thành loại đá này có thể xảy ra trên cạn hoặc dưới đáy biển. Quá trình kết tinh có thể xảy ra ở các cấp áp suất và nhiệt độ đa dạng tùy thuộc vào vị trí và thế nằm của chúng.


Thế nằm của đá[sửa | sửa mã nguồn]


Những yếu tố ảnh hưởng đến dạng nằm của đá magma[sửa | sửa mã nguồn]


+ Hoạt tính của magma: Hoạt tính của magma liên quan tới tác dụng hóa học của magma. Hoạt tính của magma được thể hiện thông qua hàm lượng chất bốc, độ nhớt, trọng lực, áp suất thủy tĩnh...
- Chất bốc (khí trong magma): Những magma giàu chất bốc sẽ xuất hiện các lực đưa magma xuyên vào đá vây quanh dễ dàng hơn magma nghèo chất bốc.

- Hoạt tính liên quan đến trọng lực do sự chênh lệch tỷ trọng giữa đá magma và đá vây quanh: khiến cho magma di chuyển vào đá vây quanh khi có điều kiện thuận lợi.

- Hoạt tính cũng liên quan đến áp suất thủy tĩnh (là áp suất của các khối đá trên đè xuống các khối đá dưới) do đó mà magma ở dưới độ sâu càng lớn thì có áp suất thủy tĩnh càng lớn và lò magma luôn có xu hướng dâng lên các tầng trên của Vỏ Trái đất để tạo nên các thể xâm nhập dạng vỉa, nấm...

- Hoạt tính của magma liên quan đến sự phá huỷ các cân bằng tướng khí lỏng của magma, magma có áp suất khí cao khi dâng lên phần nông của Vỏ Trái Đất, áp suất mái giảm đi có thể gây nổ và tạo các ống nổ.

- Hoạt tính của magma liên quan đến độ nhớt của magma và độ nhớt này ảnh hưởng đến hình dạng của thể đá magma: độ nhớt của magma phụ thuộc vào thành phần hóa học của magma, magma có độ nhớt càng thấp thì càng dễ chảy tràn và ngược lại (magma bazơ có độ nhớt thấp thì khi đưa lên bề mặt thường chảy tràn còn magma axit có độ nhớt cao thì thường tạo khối).

Yếu tố ngoại sinh bao gồm:

+ Hoạt động kiến tạo: Các hoạt động kiến tạo mức độ khác nhau sẽ tạo các đường dẫn khác nhau, từ đó sẽ dẫn đến hình dạng khác nhau của các thể đá magma.

+ Đặc điểm địa hình và đá vây quanh.


Dạng nằm của các đá magma xâm nhập[sửa | sửa mã nguồn]


- Thể nền (batolit): bất chỉnh hợp với đá vây quanh, phình ra ở phía dưới và không có đáy. Kích thước thường rất lớn, tới hàng ngàn km2.

- Thể cán: giống thể nền, chỉ khác kích thước nhỏ hơn, diện tích lộ không quá 100-200km2.

- Thể vỉa: do magma có áp lực xuyên vào khoảng giữa hai lớp đá, nó có hai mặt tiếp xúc song song, đường đưa magma lên là những khe nứt, đứt gãy. Kích thước rất khác nhau, bề dày từ vài chục mét đến hàng trăm mét. Chỉnh hợp với đá vây quanh

- Thể nấm: giống hình cái nấm hoặc bánh dày, phân biệt với thể vỉa do kích thước tương đối (chiều dày:chiều rộng>1:8), ngoài rìa mỏng dần so với phần trung tâm. Thường là các thể xâm nhập nông, nằm chỉnh hợp với đá vây quanh.

- Thể thấu kính, thể chậu: thường nằm kẹp giữa các nếp uốn, do khối nhỏ magma xuyên vào vỏ Trái đất rồi bị cuốn theo chuyển động dẻo, chúng thường không có rễ, chỉnh hợp với đá vây quanh.

- Thể tường: nằm dốc đứng bất chỉnh hợp với đá vây quanh, kích thước từ vài chục mét đến hàng trăm km.


Dạng nằm của đá magma phun trào[sửa | sửa mã nguồn]


- Dạng dòng dung nham.

- Dạng lớp phủ.

- Dạng vòm, kim, tháp.



Phần lớn lớp vỏ trái đất được cấu tạo bởi các đá mácma và đá biến chất, ước tính chúng chiếm khoảng 90-95% trong 16 km tính từ bề mặt trái đất.[8] Dù vậy, hầu hết bề mặt trái Đất được bao phủ bởi trầm tích. Về cơ bản tất cả đáy biển được phủ bởi trầm tích,[8] và 70-80% các lục địa được bao phủ bởi các đá trầm tích.[9] Hầu hết các hóa thạch được phát hiện trong trầm tích, đá trầm tích và đá biến chất từ đá trầm tích, chúng là các dấu hiện quan trọng cho việc tìm hiểu các điều kiện môi trường mà trước đây từng tồn tại trên bề mặt Trái Đất. Các nguồn năng lượng như dầu mỏ, khí thiên nhiên, than đá và urani được chiết tách từ đá trầm tích.[8]

Đá trầm tích được tạo ra từ sự lắng đọng của các mảnh vụn hoặc các chất hữu cơ, hay các chất kết tủa hóa học (các chất còn lại sau quá trình bay hơi), được nối tiếp bằng sự kết đặc của các chất cụ thể và quá trình xi măng hóa. Quá trình xi măng hóa có thể diễn ra tại hoặc gần bề mặt Trái Đất, đặc biệt là đối với các loại trầm tích giàu cacbonat.


Đặc điểm[sửa | sửa mã nguồn]


Do được hình thành trong các điều kiện môi trường năng lượng thấp nên đá trầm tích có các đặc điểm chung là:


  • Có tính phân lớp rõ rệt, chiều dày, màu sắc, thành phần, độ lớn của hạt, độ cứng... của các lớp cũng khác nhau.

  • Cường độ nén theo phương vuông góc với các lớp luôn luôn cao hơn cường độ nén theo phương song song với thớ.

  • Đá trầm tích không đặc, chắc bằng đá mácma (do các chất keo kết thiên nhiên không chèn đầy giữa các hạt hoặc do bản thân các chất keo kết co lại). Vì thế cường độ của đá trầm tích thấp hơn, độ hút nước cao hơn. Một số loại đá trầm tích khi bị hút nước, cường độ giảm đi rõ rệt, có khi bị tan rã trong nước. Đá trầm tích rất phổ biến, dễ gia công nên được sử dụng khá rộng rãi.

Phân loại[sửa | sửa mã nguồn]


Do sự tích tụ, lắng đọng hay kết tủa trong nước của các khoáng chất, của đất đá bị phong hóa, vỡ vụn tích lũy thành khối mà thành. Dựa vào nguồn gốc hình thành có ba loại:


Đá trầm tích mảnh vụn[sửa | sửa mã nguồn]


Một mẫu cuội kết mài láng lấy từ mẫu lõi khoan ngoài khơi Alaska, ở độ sâu 3.000 m.

Đá trầm tích mảnh vụn hay trầm tích cơ học được hình thành từ các sản phẩm vụn nát sinh ra trong quá trình phong hóa các loại đá có trước tích tụ lại mà thành. Về cấu tạo, đá mảnh vụn gồm hai hợp phần là các mảnh vụn và xi măng gắn kết các mảnh vụn đó lại. Phần mảnh vụn là các hạt có nhiều kích thước khác nhau, và thành phần khác nhau; còn xi măng là các hạt có kích thước nhỏ hơn cỡ hạt sét như xi măng sét, xi măng vôi hoặc xi măng silic. Một số đá trầm tích mảnh vụn thường gặp như dăm kết, cuội kết, sa thạch.


Đá trầm tích hóa học[sửa | sửa mã nguồn]


Đá trầm tích hóa học tạo thành do các khoáng chất hòa tan trong nước lắng đọng, kết tủa lại, như đá vôi dolomit. thạch cao, anhydrit, tup đá vôi…

Đá vôi chiếm khoảng 10-15% của các loại đá trầm tích của trái đất.[10] Cacbonat canxi, CaCO3, có tồn tại ở hai loại khoáng vật là canxit và aragonit. Đá vôi có thể được hình thành trong nhiều cách khác nhau, canxi cacbonat có thể được kết tủa từ nước biển bão hòa, hoặc sinh học, động vật có vỏ đá vôi để lại vỏ. Có cả động vật hình thành khung xương aragonit và động vật hình thành khung xương canxit, và tùy thuộc vào loại động vật sinh sống ở một hốc đá vôi có thể khác nhau đáng kể giữa các địa điểm.[10]

Loại phổ biến nhất của các loại đá kết tủa hóa học là evaporit, được hình thành khi nước giàu muối hòa tan bị bốc hơi. Khi bay hơi nồng độ muối tăng cho đến khi nước được bão hòa và muối bắt đầu kết tủa.[11] Một lượng lớn các đá evaporit hình thành khi biển bốc hơi trong khu vực Địa Trung Hải trong suốt thế Miocene và dọc theo bờ Biển Chết ngày nay. Các loại khoáng evaporit gồm thạch cao (CaSO4·2H2O), thạch cao khan (CaSO4) và halit (NaCl).


Đá trầm tích hữu cơ[sửa | sửa mã nguồn]


Trầm tích hữu cơ tạo thành do sự tích tụ xác động vật, thực vật như đá vôi, đá vôi vỏ sò, đá phấn, đá diatomit, trepen… Trầm tích hữu cơ thường bị các vi sinh vật tiêu thụ ôxy phá hủy. Tuy nhiên, nếu lượng oxy không đủ, vi sinh vật không thể phá hủy toàn bộ nguyên liệu, và nó có thể tạo thành một tảng đá hữu cơ. Các loại đá này có thể được hình thành cả trên các lục địa và đại dương. Ví dụ về một môi trường lục địa là than và biển là đá phiến dầu.[12] Thành phần của hợp chất carbon và carbon có thể lên tới 25% và hàm lượng lưu huỳnh có thể lên tới 12%.[12]


Đá trầm tích núi lửa[sửa | sửa mã nguồn]


Đá hình thành do mảnh vụn của núi lửa lắng đọng và nén ép thành đá như tuff.[12]


Sơ đồ các tướng biến chất bên trong Trái Đất.
Gneiss, đá biến chất cấu tạo phân phiến hình thành trong quá trình biến chất khu vực.

Đá biến chất được tạo ra từ sự thay đổi của bất kỳ loại đá nào (bao gồm cả đá biến chất đã hình thành trước đó) đối với các điều kiện thay đổi của môi trường như nhiệt độ và áp suất so với các điều kiện nguyên thủy mà các loại đá đó được hình thành. Các điều kiện nhiệt độ và áp suất này luôn luôn cao hơn so với các chỉ số của chúng ở bề mặt Trái Đất, và phải đủ cao để có thể thay đổi các khoáng chất nguyên thủy thành các dạng khoáng chất khác hoặc thành các dạng khác của cùng một khoáng chất (ví dụ bằng sự tái kết tinh).

Mức độ biến chất của đá có thể được miêu tả qua một số tướng, mỗi tướng đặc trưng bởi một số loại đá có khoáng sản đi kèm trong một giới hạn nhiệt độ và áp suất nhất định.[13] Lý thuyết về tướng biến chất được nhà địa chất Phần Lan, Pentti Eskola đưa ra năm 1915, lý thuyết này là sự phát triển tiếp theo của công trình phiến biến chất được Viktor M. Goldschmidts đưa ra từ thập niên 1900.[13]

Trong trường hợp nhiệt độ là yếu tố chính thì biến chất xảy ra theo đường màu xanh lá cây (hình bên) tạo ra đá biến chất tướng amphibolit và granulit. Trong trường hợp va mảng mà yếu tố chi phối là áp lực thì tạo nên tướng đá phiến lam và eclogit.[14]


Môi trường biến chất[sửa | sửa mã nguồn]


Biến chất khu vực xảy ra trong khu vực rộng lớn, chẳng hạn như các dãy núi. Khi các mảng kiến tạo hội tụ và các tầng trên của các lớp gấp lại và ép xuống làm những lớp đá hình thành trước bị lún sâu hơn, bên trên là những lớp trầm tích mới tích tụ dần gây nên áp lực và nhiệt độ gia tăng. Điều này dẫn đến cả hai quá trình tái kết tinh và thay đổi cấu trúc. Loại đá này có tính phân phiến (lớp mỏng) nên tính chất cơ học kém hơn đá mácma. Ví dụ Đá gơnai (do đá granit tái kết tinh), phiến sét (do sự biến chất của đất sét dươi áp lực cao).

Biến chất tiếp xúc xảy ra khi đá nằm bên cạnh một khối mácma bị ảnh hưởng bởi nhiệt từ mácma. Kích thước của mácma ảnh hưởng đến khoảng cách mà khối đá có trước bị biến chất. Trong một thể magma lớn, giống như một thể batolit lớn có thể đến vài km, thì lớp biến chất tiếp xúc có thể chỉ vài cm.[15] Biến chất tiếp xúc xảy ra ở tất cả các độ sâu trong lớp vỏ, nhưng là rõ ràng nhất khi nó xảy ra gần bề mặt, bởi vì áp lực thấp, và độ lệch nhiệt độ quá lớn. Vì biến chất tiếp xúc không liên quan đến bất kỳ áp lực nào tác động lên nên các tinh thể không định hướng theo bất kỳ hướng nào.[15] Ví dụ đá hoa (do tái kết tinh đá vôi và đá đôlômit dưới tác dụng của nhiệt độ và áp suất cao mà thành), thạch anh (biến chất từ cát)…

Biến chất nhiệt dịch xảy ra khi dòng nhiệt dịch nóng xen vào trong các khe nứt làm ảnh hưởng đến khối đá có trước. Điều này thường xảy ra trong các khe nứt của các hoạt động lửa, vì điều này góp phần ra nhiệt cần thiết.[16]

Biến chất va chạm xảy ra khi thiên thạch va chạm bề mặt đất, do động năng rất lớn của thiên thạch được chuyển thành nhiệt và áp suất trong đá bị va chạm.[17] Trong một số trường hợp, những tác động này tạo thành các coesit, một loại silica mật độ lớn, và thậm chí hình thành các hạt kim cương nhỏ. Sự hiện diện của các khoáng chất như trên cho thấy rằng ít nhất là thiên thạch đã tạo ra áp lực và nhiệt độ gây biến đổi phần trên cùng, nơi mà các khoáng vật thường được hình thành.[18]


Cấu tạo[sửa | sửa mã nguồn]


Cấu tạo đặc trưng của đá biến chất là phân phiến, đó là sự sắp xếp có định hướng của các khoáng vật dưới tác động của áp suất chính trong quá trình hình thành đá biến chất, ví dụ như đá gneiss, đá phiến lam, đá phiến lục. Phương áp lực sẽ vuông góc với mặt phẳng chứa các phiến. Dựa vào đặc điểm này, người ta có thể tái hiện lại môi trường kiến tạo vào lúc mà đá đó được hình thành. Tuy nhiên, không phải đá biến chất nào cũng có cấu tạo phân phiến. Các đá không có cấu tạo phân phiến như quartzit, đá hoa, đá sừng.



Thiên thạch là một loại đá có nguồn gốc trong không gian chứ không phải hình thành trên Trái Đất. Một số thiên thạch có thể là dấu tích còn sót lại từ sự hình thành hệ Mặt Trời cách nay hơn 4,6 tỷ năm. Thiên thạch thường bao gồm khoáng vật silicat (95%) và rất nhiều hợp kim sắt - niken, hoặc sự kết hợp cả hai (5%).

Thiên thạch sắt bao gồm hợp kim sắt-niken và chiếm khoảng 3,8% của tất cả thiên thạch. Chúng được cho là bao gồm các vật liệu từ lõi của các tiểu hành tinh bị gián đoạn. Thiên thạch sắt rơi vào ba nhóm tùy thuộc vào thành phần niken/sắt và cấu trúc tinh thể; hexahedriter chứa 4-6% niken, octahedriter chứa 6-12% niken và ataxiter chứa nhiều hơn 12% niken. Cấu trúc tinh thể của hexahedriter giống như một hình chữ nhật, octahedriter có mô hình lục giác và ataxiter không có cấu trúc tinh thể khác nhau.

Thiên thạch sắt đá bao gồm một hỗn hợp xấp xỉ bằng hợp kim sắt-niken và khoáng chất silicat và tương ứng với khoảng 0,5% của tất cả các thiên thạch được biết đến. Chúng được cho là thành tạo từ vật liệu từ khu vực tiếp giáp giữa lõi thiên thể và lớp vỏ của nó.



Đá là một loại vật liệu gắn liền với lịch sử phát triển của loài người. Thời tiền sử, bắt đầu thời đại đồ đá con người đã biết dùng đá để làm vũ khí tự vệ, săn bắn, công cụ sản xuất. Những công trình bằng đá nổi tiếng như kim tự tháp, Angkor Wat, thành Babylon, El-Djem (Tuynizi), Colisée (Ý), Bourgogne (Pháp), Épidayre (Hy Lạp), vv.[19][20][21]


Làm vật liệu xây dựng[sửa | sửa mã nguồn]


Là sản phẩm sản xuất từ đá thiên nhiên bằng phương pháp gia công cơ học hoặc do phong hóa tự nhiên như: đá hộc, đá tấm (phiến), đá dăm, cát...

Từ đá thiên nhiên có thể chế tạo một số chất kết dính như xi măng (đá vôi+ đất sét+ nung + clinker, nghiền +PG XM), vôi (nung đá vôi CaCO3), thạch cao xd CaSO4.0.5H2O (nung đá thạch cao CaSO4.2H2O) …[22]

Vật liệu đá xây dựng được sử dụng rộng rãi nhờ có những ưu điểm sau:


  • Cường độ chịu nén cao, Rn cao.

  • Bền vững trong môi trường sử dụng.

  • Dùng để trang trí như đá hoa, đá granit (hay đá hoa cương), đá gabro, đá biến chất tái kết tinh và một số loại đá phiến.[23]

  • Giá thành thấp, tận dụng được nguồn nguyên liệu địa phương.

  • Bên cạnh đó còn có một số nhược điểm: khối lượng thể tích lớn, quá trình gia công phức tạp, vận chuyển và thi công khó khăn.

Tính chất các đá làm vật liệu xây dựng bao gồm trọng lượng thể tích và cường độ ở trạng thái khô, như các loại nhẹ (trọng lượng < 1800 kg/m3 và có mác tương ứng 5, 10, 15, 75, 100, 150 kG/cm2) thường dùng xây tường cho nhà cần cách nhiệt; loại nặng (> 1800 kg/m3 và có mác tương ứng 100, 150, 200, 400, 600, 800, 1000 kG/cm2) dùng trong các công trình chịu lực, công trình thủy công để xây móng, tường chắn, lớp phủ bờ kè, ốp lát…


  • Theo hệ số mềm, các đá được chia thành 4 cấp:? 0.6; 0.6 - 0.75; 0.75 - 0.9;và? 0.9.

  • Theo yêu cầu sử dụng và mức độ gia công
    • Đá hộc: gia công theo phương pháp nổ mìn. Dùng để xây móng nhà, tường chắn, trụ cầu,

    • Đá đẽo thô, vừa, kỹ tùy theo yêu cầu sử dụng của công trình.

    • Đá kiểu: được chọn lọc kỹ, chất lượng cao, dùng để trang trí cho các công trình.

    • Đá phiến: để ốp lát, trang trí.

    • Đá dăm: làm cốt liệu trộn bê tông.


  1. ^ Roberts, Dar. "Rocks and classifications". Department of Geography, University of California, Santa Barbara. Retrieved 11 November 2012.

  2. ^ Wilson, James Robert (1995), A collector's guide to rock, mineral & fossil localities of Utah, Utah Geological Survey, pp. 1–22, ISBN 1557913366.

  3. ^  One or more of the preceding sentences incorporates text from a publication now in the public domain: 

  4. ^ Bucher, Kurt; Grapes, Rodney (2011), Petrogenesis of Metamorphic Rocks, Springer, tr. 23–24, ISBN 3540741682. 

  5. ^ Bucher, Kurt; Grapes, Rodney (2011), Petrogenesis of Metamorphic Rocks, Springer, pp. 23–24, ISBN 3540741682.

  6. ^ Chernicoff & Venkatakrishman (1995), tr. 70

  7. ^ a ă â b Andréasson, tr. 198

  8. ^ a ă â Tarbuck; Lutgens,tr. 194

  9. ^ Andréasson, tr. 235

  10. ^ a ă Andréasson, s 239

  11. ^ Andréasson, tr. 241

  12. ^ a ă â Andréasson, tr. 242

  13. ^ a ă Andréasson, sid 251

  14. ^ Encyclopedia Of Geology, band 3; s 404

  15. ^ a ă Tarbuck; Lutgens, tr. 233

  16. ^ Tarbuck; Lutgens, tr. 234

  17. ^ Tarbuck; Lutgens, tr. 236

  18. ^ Tarbuck; Lutgens, tr. 238

  19. ^ Hồ Sĩ Giao (1996), tr.9

  20. ^ William Haviland, Dana Walrath, Harald Prins, Bunny McBride, Evolution and Prehistory: The Human Challenge, p. 166

  21. ^ Botin, J.A., ed. (2009). Sustainable Management of Mining Operations. Denver, CO, USA: Society for Mining, Metallurgy, and Exploration. ISBN 9780873352673.

  22. ^ Hồ Sĩ Giao và nnk (1997) tr.10

  23. ^ Hồ Sĩ Giao và nnk (1997) tr.11-12


  • Andréasson, Per-Gunnar (2006). Geobiosphere, an Introduction (bằng tiếng Svenska) . ISBN 91-44-03670-1. 

  • Stanley Chernicoff; Ramesh Venkatakrishman (1995). Geology: An Introduction to Physical Geology. Worth Publisher. ISBN 0-87901-451-2. 

  • Crawford, Mark J. (1998). Physical Geology (bằng tiếng Anh). ISBN 0-8220-5335-7. 

  • Spicar, Erich (1995). Mineral och Bergarter (bằng tiếng Svenska). ISBN 91-534-1385-7. 

  • Selley Richard C., Cocks L. R. M., Plimer I. R. (2005). Encyclopedia of geology (bằng tiếng Anh). Amsterdam: Elsevier Academic Press. ISBN 0-12-636380-3. 

  • Tarbuck (2008). Earth -an introduction to physical geology (bằng tiếng Anh). Pearson Prentice Hall. ISBN 0132410664. 

  • Woods, Karen M. (2009). Physical Geology Laboratory Manual (bằng tiếng Anh). Kendall/Hunt Publishing Company. ISBN 978-0-7575-6114-6. 

  • Hồ Sĩ Giao, Nguyễn Sĩ Hội và Trần Mạnh Xuân (1997). Khai thác mỏ vật liệu xây dựng. Nhà xuất bản Giáo dục. 

  • Hồ Sĩ Giao (1996). Cơ sở công nghệ khai thác đá. Nhà xuất bản Giáo dục. 

  • Roberts, Dar. “Rocks and classifications”. Department of Geography, University of California, Santa Barbara. Truy cập ngày 11 tháng 11 năm 2012. 


26 tháng 1 – Wikipedia tiếng Việt


Ngày 26 tháng 1 là thứ 39 vào năm nào theo lịch Gregory. Còn 339 ngày lại (340 ngày trong năm nhuận).


  • 183 – Chân phu nhân, chính thất của Ngụy Văn Đế Tào Phi, tức ngày Đinh Dậu (15) tháng 12 năm Nhâm Tuất

  • 524 - Triệu Việt Vương ,vua nhà Tiền lý ,tức ngày 6 tháng 1 năm Giáp Thìn (m.571)

  • 1504 – Nguyễn Thái Bạt, quan viên triều Lê, tức ngày 10 tháng 1 năm Giáp Tý (m. 1527)

  • 1763 – Karl XIV Johan, quốc vương của Thụy Điển và Na Uy (m. 1844)

  • 1857 – Đạt-lại Lạt-ma thứ 12 (m. 1875)

  • 1880 – Douglas MacArthur, tướng lĩnh người Mỹ (m. 1964)

  • 1908 – Stéphane Grappelli, nghệ sĩ violon người Pháp (m. 1997)

  • 1911 – Polykarp Kusch, nhà vật lý học người Đức-Mỹ, đoạt giải Nobel (m. 1993)

  • 1918 – Nicolae Ceauşescu, chính trị gia người Romania, chủ tịch nước Romania (m. 1989)

  • 1921 – Morita Akio, doanh nhân người Nhật Bản, đồng sáng lập Sony (m. 1999)

  • 1924 – Lưu Vĩnh Châu, quân nhân người Việt Nam

  • 1925 – Paul Newman, diễn viên, đạo diễn, doanh nhân người Mỹ (m. 2008)

  • 1953 – Anders Fogh Rasmussen, chính trị gia người Đan Mạch, tổng thư ký của NATO

  • 1958 – Ellen DeGeneres, diễn viên, dẫn chương trình truyền hình người Mỹ

  • 1961 – Huỳnh Uy Dũng, doanh nhân người Việt Nam

  • 1963 – José Mourinho, huấn luyện viên bóng đá người Bồ Đào Nha

  • 1966 – Tom Henning Øvrebø,

  • 1976 – Hitomi, ca sĩ và diễn viên người Nhật Bản

  • 1978 – Nastja Čeh, cầu thủ bóng đá người Slovenia

  • 1986 – Kim Jaejoong, ca sĩ và diễn viên người Hàn Quốc (JYJ và TVXQ)

  • 1987 – Sebastian Giovinco, cầu thủ bóng đá người Ý

  • 1987 – Gojko Kačar, cầu thủ bóng đá người Serbia

  • 1996 - I.M - Thành viên nhóm nhạc Hàn Quốc MONSTA X

  • 1795 – Johann Bach, nhà soạn nhạc người Đức (s. 1732)

  • 1823 – Edward Jenner, thầy thuốc người Anh Quốc (s. 1749)

  • 1824 – Théodore Géricault, họa sĩ người Pháp (s. 1791)

  • 1873 – Amélie, hoàng hậu của Brasil (s. 1812)

  • 1885 – Charles Gordon, tướng lĩnh người Anh Quốc (s. 1833)

  • 1891 – Nikolaus Otto, kỹ sư người Đức, phát minh động cơ đốt trong (s. 1833)

  • 1925 – Robert Loeb, tướng lĩnh Phổ (s. 1853)

  • 1943 – Nikolai Vavilov, nhà thực vật học người Nga (s. 1887)

  • 1947 – Gustaf Adolf, thành viên vương thất Thụy Điển (s. 1906)

  • 1949 – Peter Marshall, nhà thuyết giáo người Anh Quốc-Mỹ (s. 1902)

  • 1952 – Khorloogiin Choibalsan, sĩ quan và nguyên thủ quốc gia Mông Cổ (s. 1895)

  • 1962 – Lucky Luciano, mafia người Mỹ (s. 1897)

  • 1979 – Pyotr Gavrilov, sĩ quan người Liên Xô (s. 1900)

  • 2000 – Don Budge, vận động viên quần vợt người Mỹ (s. 1915)

  • 2003 – Nông Thị Trưng, nhà hoạt động người Việt Nam (s. 1920)

  • 2005 – Nguyễn Thị Manh Manh, thi nhân người Việt Nam-Pháp (s. 1914)

  • 2011 – Quốc Trường, nhạc sĩ người Việt Nam (s. 1952)





Miễn dịch – Wikipedia tiếng Việt


Miễn dịch (hay miễn nhiễm) là tập hợp tất cả các cơ chế sinh học giúp cho một cơ thể đa bào giữ được sự liên kết giữa các tế bào và các mô, đảm bảo sự toàn vẹn của cơ thể bằng cách loại bỏ những thành phần bị hư hỏng cũng như các chất và sinh vật xâm hại. Chức năng bảo vệ cơ thể bao gồm hai loại cơ chế miễn dịch, lần lượt xuất hiện trong quá trình tiến hóa của các loài và liên hệ chặt chẽ với nhau ở các động vật bậc cao:


Ở cấp độ phân tử, cả hai cơ chế đều có khả năng phân biệt ("nhận diện") các thành phần của cơ thể, tức cái "ta" với tất cả những phân tử khác gọi chung là cái "không ta".

Miễn dịch đặc hiệu xuất hiện vào thời điểm phân kỳ giữa động vật có xương sống và động vật không xương sống cách đây 500 triệu năm. Miễn dịch tự nhiên có tính nguyên thủy hơn, cần thiết cho sự sinh tồn của mọi sinh vật.


Từ miễn dịch hay miễn nhiễm liên quan đến các bệnh truyền nhiễm trong lịch sử. Người ta nhận thấy những bệnh nhân bị một bệnh nhất định nhưng đã khỏi có khả năng không mắc lại căn bệnh đó về sau (miễn), kể cả khi bệnh truyền nhiễm đó lan tràn với tính chất dịch.


Có ba loại bạch cầu tham gia vào việc tiêu diệt vi rút khi xâm nhập vào cơ thể con người

*Bạch cầu trung tính và bạch cầu mônô chui ra khỏi mạch máu để tới ổ viêm, hình thành chân giả nuốt vi khuẩn vào trong tế bào rồi tiêu hóa

*Tế bào B (limpho B) tiết ra kháng thể để vô hiệu hóa vi khuẩn

*tế bào T (limpho T) nhận diện, tiếp xúc với vi khuẩn và tiết ra protêin đặc biệt làm tan tế bào bị nhiễm vi rút


Gồm hai loại chính

MIỄN DỊCH TỰ NHIÊN

Có hai loại

các loại bệnh của gia súc, gia cầm như lở mồm long móng, toi gà,... không thể xâm nhập được vào cơ thể người là miễn dịch bẩm sinh

Người nào đã từng một lần bị bệnh nhiễm khuẩn nào đó thì sau này sẽ không bị mắc bệnh đó nữa (sởi, thủy đậu, quai bị,...) đây là miễn dịch tập nhiễm

MIỄN DỊCH NHÂN TẠO

Có hai loại

người nào đã từng được tiêm phòng (viêm gan B, viêm gan A, Ung thư cổ tử cung, thủy đậu, viêm phổi, viêm phế quản, thương hàn,...) tỉ lệ nhiễm các bệnh này sẽ thấp hoặc không có, đây là miễn dịch chủ động

khi con người bị bệnh (cảm cúm, sốt, ho, tiêu chảy, sốt xuất huyết,..) thường đến các bệnh viện hay cơ sở y tế để được chữa trị, uống các loại thuốc để tăng hệ miễn dịch chống lại vi rút là miễn dịch bị động (miễn dịch khi đã mắc bệnh)





MathML – Wikipedia tiếng Việt


MathML (viết tắt cho Mathematical Markup Language, Ngôn ngữ Đánh dấu Toán học) là một ứng dụng của XML để thể hiện ký hiệu và công thức toán học với mục đích rộng là phương cách trao đổi thông tin toán học trên máy tính (để hiển thị cũng như để tính toán) và mục đích hẹp là hiển thị tài liệu toán học trên World Wide Web. Nhóm toán học của W3C đề xuất mọi người nên dần sử dụng ngôn ngữ này trên mạng.

Phiên bản 1.01 được công bố vào tháng 7 năm 1999 và bản 2.0 xuất hiện vào tháng 2 năm 2001. Tháng 10 năm 2003, bản chỉnh sửa lần thứ hai của phiên bản 2.0 của MathML được công bố là bản cuối cùng của nhóm toán W3C.

MathML được thiết kế để không chỉ hiển thị tốt công thức toán học mà còn, theo tùy chọn, chứa ý nghĩa của công thức, giúp các máy tính có thể trao đổi và hiểu nội dung toán học. Một chuẩn khác là OpenMath được thiết kế đặc biệt cho lưu trữ ý nghĩa toán học có thể được dùng để bổ trợ cho MathML.

Đối với hiển thị trên trang mạng, cấu trúc XML không ngắn gọn như TeX, nhưng có thể được dễ dàng sử dụng bởi các trình duyệt, cho phép hiển thị ngay lập tức công thức toán học một cách đẹp mắt, đồng thời truyền tải ý nghĩa toán học cho các phần mềm tính toán. Khác với TeX, MathML không được thiết kế để viết hay sửa trực tiếp bởi con người. Cần có công cụ soạn thảo, hay chuyển đổi từ ngôn ngữ thân thiện với người khác (như TeX), để cho ra kết quả là biểu diễn MathML.


Công thức bậc hai:


Vốn được viết theo ngữ pháp TeX:


x = frac{-b pm sqrt{b^2 - 4ac}}{2a}

Sẽ có thể được viết bằng MathML:


<math>
<mrow>
<mi>x</mi>
<mo>=</mo>
<mfrac>
<mrow>
<mrow>
<mo>-</mo>
<mi>b</mi>
</mrow>
<mo>&PlusMinus;</mo>
<msqrt>
<mrow>
<msup>
<mi>b</mi>
<mn>2</mn>
</msup>
<mo>-</mo>
<mrow>
<mn>4</mn>
<mo>&InvisibleTimes;</mo>
<mi>a</mi>
<mo>&InvisibleTimes;</mo>
<mi>c</mi>
</mrow>
</mrow>
</msqrt>
</mrow>
<mrow>
<mn>2</mn>
<mo>&InvisibleTimes;</mo>
<mi>a</mi>
</mrow>
</mfrac>
</mrow>
</math>

Nếu muốn hiển thị đúng trong trình duyệt Mozilla, cần thêm


<?xml version="1.0"?>
<!DOCTYPE html PUBLIC "-//W3C//DTD XHTML 1.1 plus MathML 2.0//EN"
"http://www.w3.org/TR/MathML2/dtd/xhtml-math11-f.dtd"
[ <!ENTITY mathml "http://www.w3.org/1998/Math/MathML"> ] >

Và lưu giữ các mã này trong tập tin có đuôi .xml.

Như trong ví dụ trên:


<?xml version="1.0"?>
<!DOCTYPE html PUBLIC "-//W3C//DTD XHTML 1.1 plus MathML 2.0//EN"
"http://www.w3.org/TR/MathML2/dtd/xhtml-math11-f.dtd"
[ <!ENTITY mathml "http://www.w3.org/1998/Math/MathML"> ] >
<body>
<math xmlns="&mathml;">
<mrow>
<mi>x</mi>
<mo>=</mo>
<mfrac>
<mrow>
<mrow>
<mo>-</mo>
<mi>b</mi>
</mrow>
<mo>&PlusMinus;</mo>
<msqrt>
<mrow>
<msup>
<mi>b</mi>
<mn>2</mn>
</msup>
<mo>-</mo>
<mrow>
<mn>4</mn>
<mo>&InvisibleTimes;</mo>
<mi>a</mi>
<mo>&InvisibleTimes;</mo>
<mi>c</mi>
</mrow>
</mrow>
</msqrt>
</mrow>
<mrow>
<mn>2</mn>
<mo>&InvisibleTimes;</mo>
<mi>a</mi>
</mrow>
</mfrac>
</mrow>
</math>
</body>

Có nhiều phần mềm chuyển TeX thành MathML. Như itex2mml. Hãng Wolfram Research cung cấp một trang mạng chuyển mọi biểu thức toán học sang MathML.

Trong số các trình duyệt thông dụng, Mozilla và một số trình duyệt cùng họ như là Mozilla Firefox trực tiếp hiển thị MathML. [1] Các trình duyệt khác có thể cần thêm phần mềm gắn vào; như Internet Explorer cần gắn thêm MathPlayer.

MathML được hỗ trợ bởi các phần mềm văn phòng như Microsoft Word, OpenOffice.org và KOffice và các phần mềm tính toán kỹ thuật như Maple, Mathematica, và MathCad.


Cao nguyên Thanh Tạng – Wikipedia tiếng Việt


Hình vệ tinh NASA chụp phần phía nam cao nguyên Thanh Tạng

Cao nguyên Thanh Tạng (gọi tắt trong tiếng Trung Quốc của cao nguyên Thanh Hải-Tây Tạng) hay cao nguyên Tây Tạng (25~40 độ vĩ bắc, 74-104 độ kinh đông) là một vùng đất rộng lớn và cao nhất Trung Á cũng như thế giới, với độ cao trung bình trên 4.500 mét so với mực nước biển, bao phủ phần lớn khu tự trị Tây Tạng và tỉnh Thanh Hải của Trung Quốc cũng như Ladakh tại Kashmir của Ấn Độ. Nó chiếm một khu vực với bề rộng và dài vào khoảng 1.000 và 2.500 cây số. Được mệnh danh là "mái nhà của thế giới", với diện tích khoảng 2,5 triệu km² (khoảng 4 lần lớn hơn diện tích bang Texas hay nước Pháp)[1], nó có những rặng núi cao nhất Trái Đất, như dãy Himalaya với đỉnh Everest là đỉnh cao nhất Trái Đất. Cao nguyên này hình thành từ sự va chạm của các mảng kiến tạo Ấn-Úc và Á-Âu vào thời kỳ thuộc đại Tân sinh, cách đây khoảng 55 triệu năm, và quá trình này hiện vẫn còn tiếp diễn.

Phay nghịch của cao nguyên này được xem là có ảnh hưởng đáng kể đến sự thay đổi khí hậu, cũng như đến gió mùa châu Á.

Khu vực dãy núi Khả Khả Tây Lý là khu vực gần như không có dân cư, nằm ở phần tây bắc của cao nguyên này.


Dãy núi[sửa | sửa mã nguồn]


Sông[sửa | sửa mã nguồn]


Một số con sông dài nhất thế giới bắt nguồn từ cao nguyên Thanh Tạng:


Các con sông này mang 25% trữ lượng đất thế giới.


Hồ[sửa | sửa mã nguồn]


Các hồ:


Sông băng[sửa | sửa mã nguồn]





16 tháng 12 – Wikipedia tiếng Việt


Ngày 16 tháng 12 là ngày thứ 350 (351 trong năm nhuận) trong lịch Gregory. Còn 15 ngày trong năm.


  • 755 – Tiết độ sứ An Lộc Sơn khởi binh chống triều đình, song trên danh nghĩa tuyên bố nhận được mật chiếu của Đường Huyền Tông, khởi đầu loạn An Sử, tức ngày Giáp Tý (16) tháng 11 năm Ất Mùi.

  • 1044 – Min Saw đăng cơ với vương hiệu Anawrahta tại Pagan, khởi đầu lịch sử nghiệm chứng được của Myanmar.

  • 1431 – Henry VI của Anh cử hành nghi lễ đăng quang Quốc vương Pháp tại Nhà thờ Đức Bà ở Paris, Pháp.

  • 1497 – Vasco da Gama đi vòng qua Mũi Hảo Vọng, địa điểm mà Bartolomeu Dias trước đó quyết định trở về Bồ Đào Nha.

  • 1653 – Oliver Cromwell nhậm chức Bảo hộ công chung thân của Thịnh vượng chung Anh, Scotland và Ireland.

  • 1740 – Quốc vương Phổ Friedrich II xâm chiếm Silesia, khởi đầu Chiến tranh Kế vị Áo.

  • 1862 - Lực lượng của Trương Định đồng loạt tập kích các đồn Pháp tại miền Đông Nam Kỳ.

  • 1863 – Nội chiến Hoa Kỳ: Joseph Johnston thay thế Braxton Bragg trong vai trò chỉ huy của Binh đoàn Tennessee.

  • 1864 – Nội chiến Hoa Kỳ: Chiến dịch Franklin-Nashville – Trận Nashville – Đội quân dưới quyền tướng miền Bắc George Henry Thomas đánh bại Binh đoàn Tennessee của John Bell Hood.

  • 1883 – Chiến tranh Pháp-Đại Nam: Quân Pháp chiếm được thành Sơn Tây từ tay Quân Cờ đen của Lưu Vĩnh Phúc.

  • 1899 – Câu lạc bộ bóng đá A.C. Milan được thành lập bởi hai người Anh, với tên ban đầu là Milan Foot-Ball and Cricket Club.

  • 1907 – Hạm đội Great White của Hoa Kỳ bắt đầu chuyến đi vòng quanh thế giới của mình.

  • 1920 – Động đất với cường độ 8,5 độ Richter làm rung chuyển tỉnh Cam Túc, Trung Quốc, khiến khoảng 200 nghìn người thiệt mạng.

  • 1941 – Thiết giáp hạm Yamato của Hải quân Đế quốc Nhật Bản được chính thức đưa vào hoạt động.

  • 1944 – Chiến tranh thế giới thứ hai: Bắt đầu Trận Ardennes giữa quân Đức Quốc xã và liên quân Anh Quốc-Hoa Kỳ.

  • 1946 – Thái Lan gia nhập Liên Hiệp Quốc.

  • 1947 – William Shockley, John Bardeen và Walter Houser Brattain xây dựng nên transistor tiếp điểm thực tiễn đầu tiên.

  • 1950 – Chiến tranh Triều Tiên: Tổng thống Hoa Kỳ Harry S. Truman tuyên bố tình trạng khẩn cấp sau khi quân đội Trung Quốc tham chiến cùng lực lượng cộng sản Triều Tiên.

  • 1989 – Các cuộc biểu tình bùng phát tại Timişoara, Romania để phản đối nỗ lực của chính quyền nhằm trục xuất mục sư bất đồng quan điểm người Hungary László Tőkés.

  • 1991 – Kazakhstan độc lập từ Liên Xô.

  • 1997 – Tập phim "Dennō Senshi Porigon" của Pokémon khiến 685 trẻ em Nhật Bản bị động kinh khi phát sóng trên truyền hình.

  • 2002 – Tổ chức phi lợi nhuận Creative Commons ban hành Giấy phép Creative Commons, một giấy phép bản quyền công cộng cho phép phân phối tác phẩm của một cá nhân.

  • 2009 – Avatar được phát hành trên phạm vi quốc tế, sau đó trở thành phim có doanh thu cao nhất mọi thời đại.

  • 1742 – Gebhard Leberecht von Blücher, thống chế người Đức (m. 1819)

  • 1775 – Jane Austen, tác giả người Anh (m. 1817)

  • 1834 – Léon Walras, nhà kinh tế học người Pháp, (m. 1910)

  • 1858 – Agnes Baden-Powell, nhà hoạt động tôn giáo người Anh (m. 1945)

  • 1866 – Wassily Kandinsky, họa sĩ người Nga-Pháp, tức 4 tháng 12 theo lịch Julius (m. 1944)

  • 1882 – Zoltán Kodály, nhà soạn nhạc người Hungary (m. 1967)

  • 1901 – Margaret Mead, nhà nhân chủng học người Mỹ (m. 1978)

  • 1902 – Rafael Alberti, nhà thơ người Tây Ban Nha (m. 1999)

  • 1908 – Remedios Varo, họa sĩ người Tây Ban Nha-Mexico (m. 1963)

  • 1911 – Bùi Huy Phồn, nhà thơ, nhà văn, nhà báo người Việt Nam (m. 1990)

  • 1917 – Arthur C. Clarke, tác giả người Anh (m. 2008)

  • 1932 – Rodion Shchedrin, nghệ sĩ piano và nhà soạn nhạc Liên Xô và Nga

  • 1959 – Tuấn Vũ, ca sĩ người Mỹ gốc Việt

  • 1962 – Maruschka Detmers, diễn viên người Đức

  • 1962 – La Gia Lương, diễn viên người Hồng Kông

  • 1969 – Adam Riess, nhà vật lý học thiên thể người Đức, đoạt giải Nobel Vật lý

  • 1970 – Kanō Yasuhiro, mangaka người Nhật Bản

  • 1985 – Tachibana Keita, ca sĩ người Nhật Bản (W-inds.)

  • 1987 – Mame Biram Diouf, cầu thủ bóng đá người Senegal

  • 1988 – Mats Hummels, cầu thủ bóng đá người Đức

  • 1988 – Anna Popplewell, diễn viên người Anh

  • 401 – Giáo hoàng Anastasiô I

  • 705 – Võ Tắc Thiên, hoàng hậu và thái hậu của triều Đường, hoàng đế triều Võ Chu, tức ngày 26 tháng 11 năm Ất Tị (s. 625)

  • 1325 – Charles de Valois, vương tử nước Pháp (s. 1270)

  • 1308 – Trần Nhân Tông, hoàng đế thứ ba của Nhà Trần, Anh hùng dân tộc Việt Nam, tức 3 tháng 11 âm lịch năm Mậu Thân (s. 1258)

  • 1598 – Yi Sun-sin, đô đốc người Triều Tiên (s. 1545)

  • 1687 – William Petty, nhà khoa học, nhà triết học người Anh (s. 1623)

  • 1774 – François Quesnay, nhà kinh tế học người Pháp (s. 1694)

  • 1897 – Alphonse Daudet, tác gia người Pháp (b. 1840)

  • 1921 – Camille Saint-Saëns, nhà soạn nhạc người Pháp (s. 1835)

  • 1927 – Robert von Massow, tướng lĩnh người Đức (s. 1839)

  • 1950 – Thôi Hữu, nhà thơ, nhà báo người Việt Nam (s. 1914)

  • 1963 – La Vinh Hoàn, tướng lĩnh người Trung Quốc (s. 1902)

  • 1965 – William Somerset Maugham, tác gia và nhà biên kịch người Pháp (s. 1874)

  • 1975 – Khang Sinh, chính khách người Trung Quốc (s. 1898)

  • 1980 – Harland Sanders, doanh nhân người Mỹ, sáng lập KFC (s. 1890)

  • 2009 – Yegor Timurovich Gaidar, nhà kinh tế và chính trị người Nga, Thủ tướng Nga (s. 1956)

  • 2010 – Trần Văn Giàu, nhà hoạt động chính trị, sử gia người Việt Nam (s. 1911)